07:47 ICT Thứ sáu, 28/11/2014 Tìm kiếm tại đây
Rss Feed

 

Hai chữ Tánh Linh có nguồn gốc từ tiếng Chăm Play Tnao Linh nghĩa là bàu nước thiêng theo tâm linh tín ngưỡng của đồng bào dân tộc.
Gọi là bàu nước vì đây là một vùng trũng, một thung lũng hình lòng chảo xung quanh có núi bao bọc, có sông La Ngà chảy qua và Biển Lạc rộng 280 ha án ngữ cả một vùng. Đến mùa mưa lũ, nước dâng lên tràn ngập, cả huyện biến thành một bàu nước thiêng đáng sợ. Như vậy, địa danh Chăm "Play T'nao Linh" là hình ảnh khắc họa khái quát cho địa hình huyện Tánh Linh ngày nay : một huyện trung du miền núi, có độ cao trên 110 mét, triền dốc thoai thoải từ Đông Bắc đến Tây Nam tạo thành 3 vùng rõ rệt. Vùng núi cao hình vòng cung theo hướng Đông Bắc xuống Đông Nam, độ cao từ 200 mét trở lên, độ dốc lớn, cao nhất có núi Đa Mi (1.642 mét), núi Ông (1.302 mét). Vùng này, diện tích chiếm 1/2 diện tích tự nhiên toàn huyện. Vùng núi thấp lượn sóng ở phía Tây Nam, độ cao trung bình 150 m, triền dốc thấp, chiếm diện tích nhỏ. Vùng đồng bằng trải dài ven sông La Ngà chảy qua huyện dài 50 km, hàng năm được phù sa bồi đắp màu mỡ, chiếm khoảng 13% diện tích tự nhiên của huyện.

Tánh Linh có lượng mưa khá lớn tập trung vào các tháng 8, 9, 10 hàng năm nên thường xảy ra ngập úng, lũ lụt. Nhờ có phù sa sông La Ngà bồi đắp và nước từ núi rừng đổ xuống nên đất đai Tánh Linh có độ phì tự nhiên khá cao, màu mỡ, cây cối sum suê với nhiều loại cây ăn quả : mít, xoài, vú sữa. Nhiều vùng đất trồng mía đường và các loại cây họ đậu. Đặc biệt, vùng triền đồi rất thích hợp với các loại cây công nghiệp có giá trị cao như hồ tiêu, đào lộn hột, cao su. Chính sự màu mỡ của các cánh đồng Tự Túc, Đồng Lớn rộng 3.750 ha cho sản lượng hàng năm trên 20.000 tấn đã nâng Tánh Linh lên vị trí những vựa lúa quan trọng của tỉnh Bình Thuận. Với diện tích 13.439 ha, tiềm năng rừng và đất rừng của Tánh Linh phong phú ít đâu sánh bằng. Rừng có trữ lượng gỗ lớn với nhiều loại gỗ quí : gõ đỏ, cẩm lai, sao, giáng hương, trắc, bằng lăng.

Nhân dân Tánh Linh vinh dự được gởi những thước gỗ quí của rừng quê ra thủ đô Hà Nội góp phần xây dựng Viện Bảo tàng mang tên Bác Hồ kính yêu. Chẳng những ngày trước mà cho đến bây giờ rừng Tánh Linh vẫn còn giàu các loại lâm sản, với trữ lượng 13.000 tấn lá buông, 750 triệu tấn tre, nứa, mây, chưa kể trầm, mật ong, nguồn dược liệu mã tiền, sa nhân, hoa gạo và chim, thú quí hiếm : heo rừng, sơn dương, gấu, voi, cọp, hươu, nai, công, gà lôi. Những năm gần đây, thỉnh thoảng cọp ở núi Ông vẫn còn xuống các buôn làng bắt người và trâu bò. Ngày nay, ban đêm xe hơi qua vùøng Gia Huynh, Suối Kiết vẫn thường cán chết mang, đỏ, thỏ chạy qua đường.


Sông La Ngà và hồ Biển Lạc xưa kia đầy tôm cá. Mỗi mẻ lưới quăng xuống kéo lên hàng yến, hàng tạ vừa ăn, vừa cho.
Xa xưa, Tánh Linh là khu rừng rậm hoang vu, rất nhiều thú dữ, nằm trong phần đất huyện Tuy Định (năm 1854 đổi thành huyện Tuy Lý) thuộc phủ Hàm Thuận. Năm Thành Thái thứ 13 (1901), huyện Tánh Linh chính thức thành lập gồm 2 tổng: Cam Thắng, Ngân Chữ từ huyện Tuy Lý tách ra và thuộc tỉnh Đồng Nai Thượng. Năm Thành Thái thứ 16 (1904), Tánh Linh được trích thêm tổng Nông Tang của huyện Tuy Lý, lãnh coi 3 tổng, 17 thôn sách và chuyển về phủ Hàm Thuận, tỉnh Bình Thuận thống hạt. Thời ấy huyện Tánh Linh khá rộng, bao gồm cả vùng Đờ-răng, B'lao, Di Linh. Đến năm Khải Định thứ 5 (1920), thực dân Pháp mới tách vùng cao nguyên này khỏi huyện Tánh Linh và tỉnh Bình Thuận để tái lập tỉnh Đồng Nai Thượng.

Cơ cấu dân cư Tánh Linh mang nét đặc thù của một vùng đang trên con đường khai phá, xây dựng. Dân bản địa xa xưa ở Tánh Linh là các dân tộc Rai, Cơ Ho, Châu Ro, Mạ, Chăm. Họ từ các triền núi cao Trường Sơn di chuyển xuống thành từng bộ lạc, phát rẫy, làm nương, săn bắn để sinh sống ven sông La Ngà. Một bộ phận người Chăm lập làng định cư ở đây khá sớm. Năm 1824, triều vua Minh Mạng thứ 5 đã có sắc phong Thần Quản tế cho Pô Lăm Chớ, một lãnh chúa người Chăm cai quản vùng đất này. Năm 1901 tức năm Thành Thái thứ 13, lúc ra đời huyện Tánh Linh thì viên tri huyện đầu tiên là một người Chăm tên là Mã Ôn. Còn người Kinh tới Tánh Linh lẻ tẻ từ thời vua Gia Long và thời Nguyễn Thông đưa dân Nam bộ ra Bình Thuận tị địa, sau đó là những người đi phu, làm gỗ thời thực dân Pháp. Đầu thập niên 30, thế kỷ 20 họ qui tụ thành ấp Lạc Hóa gồm 16 gia đình bên cạnh ấp người Chăm. Một số khác sống ở Sông Phan, Sông Dinh, Suối Kiết, Bà Tá, Gia Huynh, mỗi nơi vài gia đình làm nghề buôn bán nhỏ. Trước và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, dân số Tánh Linh ước độ 1.000 hộ với khoảng 4.000 khẩu.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, dân số Tánh Linh đông dần lên. Những năm 1958 - 1959, khoảng trên 20.000 dân Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Thừa Thiên... bị chính quyền Ngô Đình Diệm đưa vào Tánh Linh lập ra các khu dinh điền Bắc Núi, Tề Lễ, Đa Prim, Mê Pu, Sùng Nhơn, Gia An, Võ Xu, Khắc Cầu (Tà Pao). Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thực hiện chủ trương xây dựng vùng kinh tế mới, hơn 10.000 người từ Phan Thiết, Hàm Thuận, Hàm Tân đã đến Tánh Linh khai khẩn đất hoang, phát triển sản xuất lập các xã mới Đức Thuận, Đức Bình, Đức Tân, Đức Phú. Đất lành chim đậu, đồng bào khắp các miền đất nước cũng qui tụ nơi đây vỡ đất, lập vườn, sinh cơ lập nghiệp.

Đặc điểm qui tụ dân cư nói trên đã tạo cho Tánh Linh bản sắc truyền thống đa dạng, phong phú với nhiều phong tục, tập quán khác nhau mà cái lõi là tinh thần yêu nước, chuộng chính nghĩa, ý chí chống ngoại xâm. Đặc biệt với địa hình có hình sông thế núi trập trùng hiểm trở nối liền miền cực Đông Tây Nguyên với miền cực Bắc Nam bộ, Tánh Linh giữ một vị trí chiến lược quan trọng trong cuộc đấu tranh giữ nước. Trên 130 năm trước, năm 1865, khi chỉ huy nghĩa quân chống giặc ở Biên Hòa, nhà yêu nước Phan Trung đã chọn địa bàn Tánh Linh rừng núi ngút ngàn, đồng ruộng phì nhiêu làm hậu cứ nuôi quân. 12 năm sau, năm 1877, lúc giữ chức Doanh điền sứ Bình Thuận, nhà yêu nước Nguyễn Thông đã bỏ công đi khảo sát Tánh Linh, nuôi chí lớn xây dựng căn cứ chống giặc lâu dài. Ông không tiếc lời ca ngợi: núi rừng thì "cây cổ thụ, trúc tre che kín mặt trời", đồng bằng "một giải phẳng phiu rộng lớn", "thế nước tràn trề, cá tôm đầy rẫy", "là cái kho vô tận nuôi sống nhân dân địa phương"…

Cách mạng tháng Tám năm 1945 rồi hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ bùng nổ kéo dài 30 năm; trong những năm tháng chiến tranh đầy hy sinh gian khổ này, Tánh Linh rất tự hào là căn cứ địa vững chắc không những của tỉnh mà cả vùng cực Nam Trung bộ. Những cơ quan đầu não của Tỉnh ủy, Khu ủy, Quân khu ủy Khu 6 đều đóng tại đây. Tên tuổi của những cán bộ Cụ Hồ: Lê Văn Triều, Nguyễn Thiết Hoàng, Nguyễn Thiên (Sáu Nư) ... kiên trì ngủ bụi nằm hầm bám trụ xây dựng Tánh Linh từ những ngày đầu được đồng bào các dân tộc rất mực tin yêu. Những địa danh núi Ông, Thác "Đổ ba hồi", Đèo Nam, Mắc Cỡ, Cây "đả đảo Mỹ Diệm, thôn Hải, thôn Lập, thôn Quang… rất quen thân với cán bộ, chiến sĩ huyện, tỉnh, khu và bộ đội công trường 5 của R (tức Sư đoàn 5). Sống và chiến đấu trên địa bàn này, ai cũng có những kỷ niệm sâu sắc. Câu ca dao “Cá Biển Lạc, lúa Đồng Kho, Quân dân Bình Thuận ăn no diệt thù” nói lên vai trò vùng hậu cứ trù phú của Tánh Linh đối với sự nghiệp kháng chiến cứu nước. Đặc biệt núi Lớp, một ngọn núi cao 781 mét thuộc địa phận xã Suối Kiết cây lá mãi mãi thắm xanh với chiến công ngày 02/4/1970, chiến sĩ ta bắn rơi trực thăng, vùi xác Uy-li-am Bon, tướng hai sao Tư lệnh lữ đoàn 199 Mỹ.

Trong cuộc tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, trên chiến trường Khu 6, Tánh Linh được vinh dự mở trận đột phá : 25/12/1974, đánh sập cứ điểm then chốt Lồ Ồ án ngữ phía Bắc quận lỵ, giải phóng toàn bộ địa bàn Tánh Linh. Từ đây, đôi bờ sông La Ngà cách ngăn vùng căn cứ giải phóng và vùng địch kiểm soát được nối liền. Một bàn đạp vững chắc tiến tới tiêu diệt chi khu quận lỵ Hoài Đức, giải phóng hoàn toàn mảng Tây Bắc Bình Tuy được thiết lập. Đường hành lang rộng lớn nối liền cực Nam Trung bộ với Đông Nam bộ và Nam Tây Nguyên được mở thông. Chiến thắng có ý nghĩa chiến lược này được coi là một trong những nét son rực rỡ trên trang sử Bình Thuận trong 30 năm chiến tranh giải phóng.

Ngược dòng thời gian lùi về quá khứ, đồng bào các dân tộc miền núi Tánh Linh còn nêu cao những nét đẹp truyền thống vẻ vang. Năm 1890, người Cơ Ho, người Châu Ro, người Mạ nổi dậy chống lại sự áp bức bóc lột của thực dân Pháp và tay sai, giành quyền sống. Cuộc nổi dậy tự phát, kết quả không lớn nhưng đã ghi dấu ấn khởi điểm cho phong trào lớn mạnh sau này. Đó là những năm 1937 - 1938 hàng ngàn đồng bào dân tộc ven sông La Ngà đoàn kết bền gan tham gia phong trào "nước thần Day-on” góp tiền xu đồng rèn đúc vũ khí đánh đuổi thực dân Pháp. Phong trào này khởi nguồn từ buôn Động Đò tỏa khắp vùng Di Linh, lan xuống Tánh Linh do K’Hoar người Châu Ro và "Bà tiên trắng Mộ Cộ" người Cơ Ho lãnh đạo. Phong trào bị dập tắt, K'Hoar và Mộ Cộ bị bắt đày đi Lao Bảo, nhưng lòng yêu quê hương đất nước, ý chí chống ngoại xâm sống mãi với khí thiêng rừng núi cao nguyên. Bài thơ Châu Ro mở đầu bằng hai câu "Châu Ro ơi xa rừng quê núi cũ. Tù nơi đây buồn lắm phải không anh ?" của Tố Hữu sáng tác năm 1938 chính là mô tả niềm xúc cảm khi gặp người bạn tù K'Hoar ở Lao Bảo heo hút lúc bấy giờ.
 

Theo dòng sự kiện

Bộ đếm truy cập

  • Đang truy cập: 7
  • Hôm nay: 631
  • Tháng hiện tại: 400289
  • Tổng lượt truy cập: 4861637